SỰ KHỞI ĐẦU MỚI (Sáng-thế Ký 8-9)

Sáng-thế Ký 8
18. Vậy, Nô-ê cùng vợ người, các con trai và các dâu người ra khỏi tàu.19. Các thú, rắn, chim cùng mọi vật hành động trên mặt đất tùy theo giống đều ra khỏi tàu.
20. Nô-ê lập một bàn thờ cho Ðức Giê-hô-va. Người bắt các súc vật thanh sạch, các loài chim thanh sạch, bày của lễ thiêu dâng lên bàn thờ.21. Ðức Giê-hô-va hưởng lấy mùi thơm và nghĩ thầm rằng: Ta chẳng vì loài người mà rủa sả đất nữa, vì tâm tánh loài người vẫn xấu xa từ khi còn tuổi trẻ; ta cũng sẽ chẳng hành các vật sống như ta đã làm.22. Hễ đất còn, thì mùa gieo giống cùng mùa gặt hái, lạnh và nóng, mùa hạ cùng mùa đông, ngày và đêm, chẳng bao giờ tuyệt được.

Nô-ê tạ ơn Chúa vì sự cứu rỗi. Giao ước cứu rỗi mà Đức Chúa Trời ban cho Nô-ê khi đóng thuyền được thực thi. Chúa là Đấng thành tín với lời hứa của Ngài. Câu “tâm tánh loài người vẫn xấu xa từ khi còn tuổi trẻ” có nghĩa là khi sinh ra thì loài người đã là tội nhân, do đó bằng sự trừng phạt và giáo dục không thể thay đổi được bản chất tội nhân của loài người. Chủ trương “nhân chi sơ tính bản thiện” là hoàn toàn sai lầm. Đức Chúa Trời giáng cơn hồng thuỷ xuống để bày tỏ sự thánh khiết tuyệt đối của Ngài, nhưng khi cứu Nô-ê thì Ngài cũng bày tỏ ra con đường đi đến sự cứu rỗi bởi ân điển nhờ đức tin.

Đức Chúa Trời ban phước cho Nô-ê như thế nào? Tại sao các động vật lại sợ loài người?

Sáng-thế Ký 9
1. Ðức Chúa Trời ban phước cho Nô-ê cùng các con trai người, mà phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy trên mặt đất.2. Các loài vật ở trên đất, các loài chim trời, và các vật hành động trên đất, cùng các cá biển, đều sẽ kinh khủng ngươi và bị phú vào tay ngươi.3. Phàm vật chi hành động và có sự sống thì dùng làm đồ ăn cho các ngươi. Ta cho mọi vật đó như ta đã cho thứ cỏ xanh.

Được cứu khỏi nạn hồng thuỷ tượng trưng cho cuộc đời mới. Do đó Đức Chúa Trời đã nhắc lại mục đích Ngài tạo dựng nên loài người. Loài người sau khi phạm tội đã đánh mất sứ mệnh và mục đích sống chân chính. Sự cứu rỗi là khởi đầu cuộc sống mới, với mục đích và sứ mệnh. Cơ đốc nhân sau khi nhận được sự cứu rỗi phải bắt đầu sống cho sứ mệnh. Sự tái sinh là bắt đầu cuộc đời mới với mục đích sống mới.

Tại sao lại không được ăn huyết?

  1. Song các ngươi không nên ăn thịt còn hồn sống, nghĩa là có máu.5. Quả thật, ta sẽ đòi máu của sự sống ngươi lại, hoặc nơi các loài thú vật, hoặc nơi tay người, hoặc nơi tay của anh em người.6. Hễ kẻ nào làm đổ máu người, thì sẽ bị người khác làm đổ máu lại; vì Ðức Chúa Trời làm nên người như hình của Ngài.7. Vậy, các ngươi hãy sanh sản, thêm nhiều, và làm cho đầy dẫy trên mặt đất.
    Khi nhìn vào việc Đức Chúa Trời trừng phạt huỷ diệt mọi loài vật sống, thì người ta có thể có ý nghĩ rằng giết đi một linh hồn sống là chuyện dễ dàng. Do đó Đức Chúa Trời khẳng định giá trị của sự sống, cũng như loài người vẫn có giá trị vì được tạo nên theo hình của Ngài.

 

Lê-vi ký 17:10-14 10. Phàm người nào của nhà Y-sơ-ra-ên hay là kẻ khách kiều ngụ giữa họ, ăn huyết chi cũng mặc, thì ta sẽ nổi giận cùng kẻ ăn đó, truất nó khỏi dân sự mình;11. vì sanh mạng của xác thịt ở trong huyết; ta đã cho các ngươi huyết rưới trên bàn thờ đặng làm lễ chuộc tội cho linh hồn mình; vì nhờ sanh mạng mà huyết mới chuộc tội được.12. Bởi cớ đó ta đã phán cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Trong vòng các ngươi không ai nên ăn huyết; kẻ khách kiều ngụ giữa các ngươi cũng không nên ăn huyết.13. Còn nếu ai, hoặc dân Y-sơ-ra-ên. hoặc kẻ khách kiều ngụ giữa họ, đi săn được một con thú hay là con chim ăn thịt được, thì phải đổ huyết nó ra, rồi lấy bụi đất lấp lại;14. vì sanh mạng của mọi xác thịt, ấy là huyết nó, trong huyết có sanh mạng. Bởi cớ ấy, ta đã phán cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Các ngươi không nên ăn huyết của xác thịt nào; vì sanh mạng của mọi xác thịt, ấy là huyết nó; ai ăn sẽ bị truất diệt.

Ở đây Đức Chúa Trời bắt đầu bày tỏ dần về ý nghĩa của Tin Lành, Ngài bắt đầu dạy về giá trị của huyết, và giá phải trả cho tội lỗi. Phải đổ huyết mới được tha tội. Nghĩa là giá trả của tội lỗi là sự chết. Tất cả nhân loại phải chết vì tội lỗi, nhưng CHÚA JESUS đã chết thay cho tội lỗi của chúng ta.

Đức Chúa Trời đặt giao ước với ai? Giao ước có nội dung gì và có hiệu lực đến khi nào? Chúa ban cho dấu hiệu gì? Đức Chúa Trời ban giao ước là Đấng như thế nào?

  1. Ðức Chúa Trời cũng phán cùng Nô-ê và các con trai người rằng:9. Còn phần ta đây, ta lập giao ước cùng các ngươi, cùng dòng dõi các ngươi,10. và cùng mọi vật sống ở với ngươi, nào loài chim, nào súc vật, nào loài thú ở trên đất, tức là các loài ở trong tàu ra, cho đến các loài vật ở trên đất.11. Vậy, ta lập giao ước cùng các ngươi, và các loài xác thịt chẳng bao giờ lại bị nước lụt hủy diệt, và cũng chẳng có nước lụt để hủy hoại đất nữa.12. Ðức Chúa Trời lại phán rằng: Ðây là dấu chỉ về sự giao ước mà ta lập cùng các ngươi, cùng hết thảy vật sống ở với các ngươi, trải qua các đời mãi mãi.13. Ta đặt mống của ta trên từng mây, dùng làm dấu chỉ sự giao ước của ta với đất.14. Phàm lúc nào ta góp các đám mây trên mặt đất và phàm mống mọc trên từng mây,15. thì ta sẽ nhớ lại sự giao ước của ta đã lập cùng các ngươi, và cùng các loài xác thịt có sự sống, thì nước chẳng bao giờ lại trở nên lụt mà hủy diệt các loài xác thịt nữa.16. Vậy, cái mống sẽ ở trên mây, ta nhìn xem nó đặng nhớ lại sự giao ước đời đời của Ðức Chúa Trời cùng các loài xác thịt có sự sống ở trên đất.17. Ðức Chúa Trời lại phán cùng Nô-ê rằng: Ðó là dấu chỉ sự giao ước mà ta đã lập giữa ta và các xác thịt ở trên mặt đất.

Giao ước của Đức Chúa Trời bày tỏ cho chúng ta biết Đức Chúa Trời là Đấng nhân từ và giàu lòng thương xót. Ngài chỉ ra rằng bằng luật pháp và sự trừng phạt không ai có thể cứu rỗi. Do đó chỉ có bởi sự nhân từ của Đức Chúa Trời thì con người mới có thể nhận được sự cứu rỗi. Mỗi khi loài người nhìn thấy cầu vồng thì cần phải nhớ đến nạn đại hồng thuỷ, nhớ đến Đức Chúa Trời là Đấng thánh khiết trừng phạt tội lỗi, nhưng Ngài cũng là Đấng nhân từ giàu lòng thương xót để cứu nhân loại bằng ân điển.

Nô-ê đã phạm điều xấu hổ như thế nào? Cham đã xử sự như thế nào?

  1. Các con trai của Nô-ê ở trong tàu ra là Sem, Cham và Gia-phết. Vả, Cham là cha của Ca-na-an.19. Ấy đó, là ba con trai của Nô-ê, và cũng do nơi họ mà có loài người ở khắp trên mặt đất.20. Vả, Nô-ê khởi cày đất và trồng nho.21. Người uống rượu say, rồi lõa thể ở giữa trại mình.22. Cham là cha Ca-na-an, thấy sự trần truồng của cha, thì ra ngoài thuật lại cùng hai anh em mình.23. Nhưng Sem và Gia-phết đều lấy áo choàng vắt trên vai mình, đi thùi lui đến đắp khuất thân cho cha; và bởi họ xây mặt qua phía khác, nên chẳng thấy sự trần truồng của cha chút nào.

Như trong chương 6 chúng ta đọc Nô-ê là một người công bình và trọn vẹn, thì ở đây rõ ràng không trọn vẹn và hoàn hảo chút nào. Nô-ê thực cũng là một con người với những ưu khuyết điểm. Do đó khi Đức Chúa Trời nhìn vào Nô-ê và đã lập giao ước cứu thuyền để cứu Nô-ê, thì không phải nhìn vào hành vi, mà là tấm lòng và đức tin của ông trước mặt Chúa.

Cham đã không có sự tôn trọng đối với Nô-ê là người được Đức Chúa Trời sử dụng, điều đó bày tỏ rằng Cham không có sự kính sợ Đức Chúa Trời. Chúng ta tôn trọng những người hầu việc Chúa không phải là họ xứng đáng, mà bởi vì Đức Chúa Trời chọn và sử dụng họ.

Nô-ê đã rủa sả Ca-na-an như thế nào? Ông đã chúc phước cho Sem và Gia-phết như thế nào?

  1. Khi Nô-ê tỉnh rượu rồi, hay được điều con thứ hai đã làm cho mình,25. bèn nói rằng: Ca-na-an đáng rủa sả! Nó sẽ làm mọi cho các tôi tớ của anh em nó.26. Người lại nói rằng: Ðáng ngợi khen Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của Sem thay; Ca-na-an phải làm tôi cho họ!27. Cầu xin Ðức Chúa Trời mở rộng đất cho Gia-phết, cho người ở nơi trại của Sem; còn Ca-na-an phải làm tôi của họ.28. Sau khi lụt, Nô-ê còn sống ba trăm năm mươi năm.29. Vậy, Nô-ê hưởng thọ được chín trăm năm mươi tuổi, rồi qua đời.

Nô-ê rủa sả Ca-na-an, bởi vì bản thân đời sống của Ca-na-an đầy tội lỗi và tiếng xấu. Trong số con của Cham thì Ca-na-an không phải là con cả, nhưng vì tiếng xấu nổi danh mà người ta gọi Cham là cha của Ca-na-an. Tổ phụ như vậy chỉ sinh ra những hậu duệ không tốt. Sau này Đức Chúa Trời ban cho Abraham đất Ca-na-an, từ một phía đó là sự ban phước, nhưng đồng thời là sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với các dân tộc ở xứ Ca-na-an.

Be the first to comment

Leave a Reply