CÁCH NHÌN MỚI VỀ LỊCH SỬ THẾ GIỚI

Phần 1: Tiền sử nghĩa là gì?

Khi học trong nhà trường phổ thông, chúng ta thường hay gặp phải một thuật ngữ khó hiểu “tiền sử”. Tiền sử là gì? Có ý nghĩa gì?

Thời tiền sử là thuật ngữ thường được dùng để mô tả thời đại trước khi lịch sử được viết. Paul Tournal lúc đầu tạo ra thuật ngữ trước-lịch sử (Pré-historique) để mô tả những vật ông tìm thấy trong các hang động của miền Nam nước Pháp. Nó đã được sử dụng trong ngôn ngữ tiếng Pháp vào những năm 1830 để miêu tả thời gian trước khi có chữ viết, và nó được đưa vào trong ngôn ngữ tiếng Anh bởi Daniel Wilson vào năm 1851.

Sau này những người theo trường phái vô thần đã sử dụng nó để miêu tả về một thời đại cổ xưa trong lịch sử loài người, khi mà theo học thuyết tiến hoá người thượng cổ ăn lông ở lỗ kém phát triển. Những động vật tuyệt chủng như khủng long cũng được liệt vào danh sách động vật tiền sử.

Thực ra có hay không có thời kỳ “tiền sử”? Có phải chăng con người thời “tiền sử” thực sự rất ngu xuẩn, kém phát triển?

2 Phi-e-rơ 3:3-6 chép “ 3Trước hết phải biết rằng, trong những ngày sau rốt, sẽ có mấy kẻ hay gièm chê, dùng lời giễu cợt, ở theo tình dục riêng của mình, 4đến mà nói rằng: Chớ nào lời hứa về sự Chúa đến ở đâu? Vì từ khi tổ phụ chúng ta qua đời rồi, muôn vật vẫn còn nguyên như lúc bắt đầu sáng thế. 5Chúng nó có ý quên lững đi rằng buổi xưa bởi lời Đức Chúa Trời có các từng trời và trái đất, đất ra từ nước và làm nên ở giữa nước, 6thế gian bấy giờ cũng bị hủy phá như vậy, là bị chìm đắm bởi nước lụt.”  Người ta cứ nghĩ rằng: “muôn vật vẫn còn nguyên như lúc bắt đầu sáng thế”, nghĩa là thế giới của chúng ta luôn luôn là như ngày nay. Người ta cố tình quên đi 1 sự kiện đã phân chia lịch sử thế giới của chúng ta: cơn Đại hồng thuỷ.

Trên thực tế cơn Đại hồng thuỷ đã nhấn chìm thế giới dưới nước, và khi nước rút đi, cấu trúc của thế giới đổi khác. Nếu chúng ta chấp nhận sự kiện Đại hồng thuỷ, thì chúng ta có thể hiểu rõ và giải thích được rất nhiều điều bí ẩn, khó hiểu trên thế giới, ví dụ như: người khổng lồ, khủng long, các đồ vật như giầy, bình gốm, hoa tai, pin,…trong các mỏ than, kim tự tháp, các nền văn minh Inca, Maya, tượng đá ở đảo Phục sinh, …

Lúc đó tuổi thọ trung bình của loài người khoảng gần 1000 năm. Nếu một thiên tài phát minh sống gần 1000 năm, thì ông ta có thể làm được những gì? Những phát hiện khảo cổ cho thấy trước Đại hồng thuỷ loài người rất thông minh, khoa học rất phát triển. Họ đã có thể tạo nên tàu vũ trụ và có thể đã từng bay đến sao Hoả, sao Kim. Với những máy móc hiện đại, người ta có thể xây dựng nên những Kim tự tháp khổng lồ… Do vậy ý kiến cho rằng người cổ đại ăn lông ở lỗ, ngu dốt là không chính xác. Thực tế kiến thức khoa học, thiên văn học của loài người trước Đại hồng thuỷ cao siêu hơn nhiều khi chúng ta có thể tưởng tượng được.

Như vậy, thuật ngữ “tiền sử” có thể hiểu là “tiền – Đại hồng thuỷ”, thời kỳ nền văn minh loài người trước nạn Đại hồng thuỷ. Theo Kinh thánh thì nạn Đại hồng thuỷ xảy ra vào năm 1656 từ buổi sáng thế, khoảng 2400 năm trước CN, khoảng 4400 năm trước đây.

Phần 2: Lịch sử thế giới trước Đại hồng thuỷ

Sau khi bị satan cám dỗ, Adam phạm tội và bị đuổi khỏi Vườn Eden. Nhưng Đức Chúa Trời đã ban cho một lời hứa về sự cứu rỗi qua dòng dõi người nữ (một con trai sanh ra từ nữ đồng trinh). Do đó ông đã đặt tên cho vợ mình là Eva, nghĩa là “sự sống”, để nói lên hy vọng về sự cứu rỗi qua dòng dõi Eva. Từ đó trở đi Adam trở thành nhà truyền giáo đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Cho đến trước khi xảy ra cơn Đại hồng thuỷ, thì loài người vẫn luôn nhìn thấy lối vào của vườn Eden luôn được canh giữ bởi các thiên sứ với gươm lưỡi chói loà. Adam sau khi bị đuổi khỏi vườn đã rất ăn năn hối hận về tội lỗi của mình, và dành hết thời gian để rao giảng về niềm hy vọng quay lại với Đức Chúa Trời qua Đấng Cứu Thế Messiah, ông cũng huấn luyện một người thừa kế chức vụ truyền đạo của mình. Sáng thế ký chương 5 ghi chép lại tên của 10 người, là hậu duệ của Adam. Đó là 10 vị trưởng tế của 10 thế hệ đã truyền giảng cho 10 thế hệ về sự cứu rỗi thông qua Con trai sinh ra từ nữ đồng trinh. Đó là nguyên do trong các tôn giáo cũng như các huyền thoại của các dân tộc đều có hình bóng của ý tưởng này.

Phần 3: Nim-rốt – Khởi đầu của lịch sử mới

Có người nói rằng sa-tan ghét nhất 2 cuốn sách trong Kinh thánh – đó là Sáng thế ký và Khải huyền, bởi vì 2 cuốn sách này lột rõ bộ mặt, bản chất và dự định của ma quỷ. Chúng ta cùng xem xét chân lý Lời Chúa nói gì về điều này.

Sau nạn Đại hồng thuỷ, Nim-rốt là hậu thế của dòng dõi Cham, Cúc,… là dòng dõi tiếp tục những việc ác của dòng Cain. Nim-rốt, được dịch nghĩa là “kẻ phản loạn”, là người đầu tiên tìm ra cách tiêu diệt khủng long, ông ta bắt đầu tiêu diệt những con quái thú khổng lồ, xây dựng các thành trì với những bức tường cao lớn để bảo vệ người dân. Đây là những thành phố đầu tiên với nền kinh tế được hệ thống hoá xuất hiện sau Đại hồng thuỷ. Như chúng ta biết, các hậu duệ của Abraham – là những tổ phụ đức tin, luôn giữ hình thức sống du canh du cư, tránh xa các thành thị, bởi vì hệ thống thành thị được xây dựng với những phương pháp không đẹp lòng Đức Chúa Trời. Nim-rốt là một lãnh đạo khéo léo, và ông ta đã trở thành vị vua đầu tiên trong lịch sử: một độc tài. Ông ta dựng nên Đế quốc Babylon cổ xưa ở vùng đồng bằng Si-nê-a. Các nhà khảo cổ cho rằng đó là nền văn minh đồ gốm Sumer.

Josephus Flavius viết về Nim-rốt như sau:

Nim-rốt cháu của Cham, là một chiến sỹ dũng cảm có sức khoẻ vô địch, đã kêu gọi loài người chống nghịch lại Đức Chúa Trời. Ông ta khéo léo thuyết phục mọi người tham gia vào hệ thống thành thị mà ông ta xây dựng. Ông ta cũng thuyết phục mọi người rằng nguyên nhân sự thịnh vượng không phải đến từ Đức Chúa Trời mà là do nỗ lực của con người. Do đó ông ta bắt đầu thi hành quyền lực tối cao của mình, vì ông ta tin tưởng rằng nếu mọi người đầu phục quyền tể trị của ông ta, thì người ta sẽ từ bỏ Đức Chúa Trời và không còn kính sợ Ngài nữa. Ông ta còn khoe khoang rằng sẽ bảo vệ họ nếu Đức Chúa Trời sẽ cho nước lụt đến nữa. Ông ta khuyên họ xây một cái tháp cao hơn mức nước lụt có thể ngập đến. Đám đông đồng lòng với lời khuyên của Nim-rốt và bắt đầu cho rằng việc vâng phục Đức Chúa Trời là sự nô lệ mù quáng nhục nhã. Và họ bắt đầu xây dựng tháp, không tiếc công sức. (Josephus Flavius. Những năm xưa của người Do-thái.)

Từ đây trong hầu hết các dân tộc đều có câu chuyện cổ tích về trận lụt và việc xây tháp. Khó có thể tìm được dân tộc nào mà không có huyền thoại này.

Thế giới của chúng ta thời xưa đã từng là một vương quốc hợp nhất: 1 ngôn ngữ, 1 chính phủ, 1 nền kinh tế, và 1 tôn giáo thờ lạy sa-tan. Đó là điều mà sa-tan vô cùng đắc ý. Nhưng Đức Chúa Trời đã phá huỷ kế hoạch thống trị toàn thế giới của sa-tan, bằng cách làm lộn xộn tiếng nói. Từ đó trở đi ước vọng của sa-tan là xây dựng lại một thế giới mới, giống như thời Nim-rốt. Đó chính là “Trật tự thế giới mới” – NOVUS ORDO SECLORUM.

Phần 4: Freemasonry- Hội tam điểm:

Năm 1826 có một vị đại uý tên là William Morgan đã viết một cuốn sách có tựa đề “Vài lời giải thích về Hội tam điểm của một người đã nghiên cứu 30 năm”, trong đó ông đưa ra những tố cáo về Hội kín này.

Năm 1827 cuốn sách được phát hành ở Newyork dưới hình thức tự in ấn. Sau đó ông bị những thành viên của tổ chức bắt cóc và giết hại mặc dù ông có vợ và 2 con nhỏ.

Năm 1869, cố Mục sư Charles Grendison Finney xuất bản cuốn sách Bản chất, sự tố cáo và những thực hành của Hội kín tam điểm. Từ đó Hội tam điểm đã bị lột mặt.

Hội tam điểm, tên tiếng Anh freemasonry, gọi tắt là mason, có nghĩa là Người thợ đá. Tổ chức này bắt đầu từ khi nào, không ai biết. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nó bắt nguồn từ thời Nim-rốt, là hậu duệ của những người xây tháp Ba-by-lon (Ba-bên). Trong một vài lễ nghi của Hội tam điểm, có một nghi lễ tôn thờ Hi-ram, vua Ty-rơ, là người đã giúp vua David xây cung điện, và giúp vua Solomon xây đền thờ ở Jerusalem. Có lẽ các thành viên của tổ chức này nắm giữ được những bí quyết của ngành xây dựng, dường như những công trình xây dựng lớn trong quá khứ phải nhờ đến họ.

Điều chắc chắn là thời kỳ Trung cổ, sau khi các Giáo hoàng của Giáo hội La-mã quyết định trùng tu và xây dựng nhiều nhà thờ, thì hầu hết các nhà thờ được xây dựng bởi thành viên của mason, bởi vì người ta tìm thấy rất nhiều những ký hiệu của Hội trong các nhà thờ. Thời Trung cổ, khi mà Giáo hội Công giáo trừng phạt nghiêm khắc những hoạt động dị giáo, thì có rất nhiều người theo Thuật giả kim, cũng như luyện tà thuật, cũng như nhiều nhà khoa học đã được Hội kín che chở. Nhờ công việc xây dựng nhà thờ, nên Hội tam điểm bắt đầu giàu có nhanh chóng.

Bắt đầu từ năm 70, khi tướng Titus phá huỷ Jerusalem, thì người Do thái bị mất nước, và bị xua đuổi đi khắp nơi trên thế giới. Vì cớ hành động của họ đòi tha tội cho Banaba và đòi đóng đinh CHÚA JESUS  lúc quan Bôn-xơ Phi-lát rửa tay và nói: “ta không có tội về huyết của người này”, nên người Do-thái bị coi là tội đồ và bị o ép khắp nơi trên thế giới. Người Do-thái không có chỗ ở cố định, và họ luôn sẵn sàng cho việc chạy trốn, nên tài sản của họ rất gọn nhẹ. Họ không giữ tài sản ở dạng đất đai, mà ở dạng tiền và đá quý. Đi đến đâu người Do-thái cũng nổi tiếng về việc cho vay lãi. Có thể nói các gia tộc Do-thái đã lập nên nền tảng hệ thống ngân hàng quốc tế. Để nhận được tiền bạc hoặc vàng bạc ở các nước khác, bạn chỉ cần cầm theo ngân phiếu của ngân hàng tư nhân. Thời Trung cổ, có rất nhiều người Do-thái tham gia Hội kín để được bảo vệ. Do đó nhờ hệ thống chân rết của người Do-thái ở khắp thế giới mà Hội tam điểm cũng được lợi nhiều. Dần dần những vị trí trọng yếu của Hội tam điểm rơi vào tay người Do-thái.

Phần 5: Gia tộc Rothschild

Từ năm 1694 đến 1776, khi tác phẩm “The Wealth of Nations” (Của cải của các quốc gia) của Adam Smith ra đời, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, tổng lượng tiền giấy do các ngân hàng phát hành đã nhiều hơn tổng lượng tiền kim loại đang lưu thông. Mâu thuẫn giữa nhu cầu lưu thông tiền tệ tăng đến mức cực đại trong những ngành công nghiệp mới trỗi dậy như ngành đường sắt, khoáng sản, đóng tàu, cơ khí, dệt may, công nghiệp quốc phòng, năng lượng… và khả năng yếu kém trong lưu thông tiền tệ của các ngân hàng cũ đã ngày càng trở nên gay gắt. Ngân hàng mới nổi của dòng họ Rothschild đã nắm bắt được cơ hội lịch sử này. Bằng việc áp dụng những phương thức có lợi nhất cho mình, họ đã làm chủ toàn diện hướng đi lịch sử của lĩnh vực tiền tệ hiện đại.

Đến năm 1800, dòng họ Rothschild đã trở thành một trong những dòng họ Do Thái giàu có nhất ở đất Frankfurt. Ngày 18 tháng 6 năm 1815, trận Waterloo được. triển khai ở ngoại ô Brussels – Bỉ. Ngày 19 tháng 6 năm 1815, nhờ biết trước thông tin về chiến thắng của quân Anh mà gia tộc Rothschild đã kiếm được một lượng tiền gấp 20 lần so với tổng số của cải mà Napoleon và Wellington có được từ mấy chục năm chiến tranh! Trận Waterloo đã biến gia tộc Rothschild trở thành chủ nợ lớn nhất của chính phủ Anh để từ đó chi phối quyền phát hành công trái của nước này. Công trái Anh chính là chứng từ thu thuế của chính phủ trong tương lai, và nghĩa vụ nộp các khoản thuế của người dân Anh cho chính phủ đã biến tướng thành việc trưng thu thuế mà ngân hàng Rothschild đánh vào toàn dân. Các khoản chi tiêu của chính phủ Anh chủ yếu dựa vào việc phát hành công trái mà có, hay nói cách khác, chính phủ Anh cần phải đi vay tiền của các ngân hàng tư nhân để chi tiêu vì không có quyền phát hành tiền tệ trong khi còn phải chi trả lãi suất khoảng 8%, và toàn bộ đều được kết toán bằng vàng. Khi đã nắm giữ công trái Anh với số lượng áp đảo, trên thực tế gia tộc Rothschild là người đang quyết định giá trị của công trái, chi phối hoàn toàn lượng cung ứng tiền tệ của nước Anh, và như vậy, mạch máu kinh tế của nước Anh đã bị gia tộc Rothschild siết chặt.

Ngày 23 tháng 12, 1913, một ngân hàng tư nhân có tên gọi là “Tổ chức Dự trữ liên bang” (Federal Reserve Association) được thành lập. Khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ chính thức đi vào hoạt động ngày 25 tháng 10 năm 1914, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã bùng nổ. Bởi vì ngân hàng kiếm tiền từ việc cho vay nợ lấy lãi. Để trang bị vũ khí cho chiến tranh các chính phủ buộc phải vay lãi từ ngân hàng, …  Cũng chính trục ngân hàng London New York đã cho Hitler vay tiền để phát động chiến tranh thế giới thứ hai. Năm 1929 phố Wall cử người sang Đức gặp Adolf Hitler. Ngày 30 tháng 1 năm 1933, Adolf Hitler trở thành thủ tướng Đức. Ngày 1 tháng 9 năm 1939, Đức đã phát động cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, nghĩa là họ chỉ mất sáu năm để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh này!

Cũng chính hệ thống ngân hàng tư nhân này hỗ trợ tài chính cho Lê-nin và Troitskiy để làm cách mạng lật đổ Sa-hoàng ở nước Nga. Người ta vẫn còn giữ được một tờ ngân phiếu 1 triệu đô-la của Ngân hàng London – New York chi cho Lê-nin.

Vào thế kỷ 21 này, ai cũng biết sự tác động mạnh mẽ của Quỹ tiền tệ thế giới IMF lên hệ thống kinh tế tài chính của một quốc gia nào đó.

Phn 6: Hội Illuminati và Adam Weishaupt

Năm 1770 Mayer Amshel Rotschild trả tiền cho Adam Weishaupt để thành lập Giáo phái Illuminati. “ILLUMINATI” có nghĩa “những người được soi sáng”, “những kẻ ban sự sáng”. Trong tiếng Ấn-độ là “Buddha”. Lucifer  là thiên sứ sáng láng. (2 Cor. 11:14 “Nào có lạ gì, chính quỉ Sa-tan mạo làm thiên sứ sáng láng”.)

Năm 1771 một nhà buôn có tên Colmer làm lễ cho Adam Weishaupt gia nhập hội ma thuật Ai-cập. Trong vòng 5 năm Adam Weishaupt nghiên cứu ma thuật trường phái Memphis-Michraim. Ngày 1 tháng 5 năm 1776 Weishaupt thành lập Hội Illuminati, bí danh của ông là Spartacus. Ông ta muốn một nước cộng hòa vô thần kích thước toàn cầu thực sự, ngay cả khi nó mang lại cuộc cách mạng bạo lực và đổ máu trên toàn thế giới. Trật tự thế giới mới của ông có sáu điểm chính:

  1. Bãi bỏ nhà nước quân chủ của các quốc gia (cả thế giới chỉ có 1 chính phủ).
  2. Bãi bỏ quyền sở hữu tư nhân.
  3. Bãi bỏ quyền thừa kế.
  4. Triệt tiêu chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc.
  5. Hủy bỏ gia đình, cho phép tự do tình dục và hủy bỏ tất cả các luật pháp đạo đức.
  6. Tiêu diệt tất cả các tôn giáo đặt niềm tin vào một Thiên Chúa hằng sống.

Năm 1782 Tổ chức Illuminati và Hội tam điểm hợp nhất với nhau. Dần dần Hội kín khổng lồ này thâu tóm hết tất cả các hội kín khác về dưới trướng của mình.

Phần 7: Học thuyết cộng sản và Carl Marx

Vào năm 1847 một trí thức trẻ tuổi Carl Henrich Marx gia nhập Hội những người công bằng, là một nhánh của Hội Illuminati. Mazzini là một trong những lãnh đạo Hội kín đã sử dụng Carl Marx để thâu tóm tầng lớp công nông. Carl Marx là thành viên của Hội sa-tan. Trong bài thơ “Người chơi đàn vĩ cầm” ông ta viết: “Những làn hơi của địa ngục bay lên và làm đầy ắp trí não tôi, cho đến khi tôi hoá điên và tâm linh tôi biến đổi hoàn toàn. Bạn có thấy thanh gươm đó không? Chúa tể bóng tối đã bán nó cho tôi”. Để hiểu được những dòng thơ này, thì chúng ta cần phải biết nghi lễ gia nhập của Hội sa-tan. Để gia nhập vào Hội satan, thì thành viên mới phải mua một thanh gươm của sự thịnh vượng và thành công. Thành viên phải lấy máu trích từ mạch máu và ký hợp đồng rằng linh hồn của anh ta sẽ thuộc về satan đời đời sau khi chết. Đồng chí của Carl Marx, là những người đồng sáng lập ra Quốc tế cộng sản đệ nhất, Bakunin và Moise Guess, đều là những thành viên của Hội kín, cũng là những người thờ lạy satan, nói về Carl Marx như sau: “đây sẽ là người kết liễu tôn giáo”. Tuyên ngôn Đảng cộng sản của Marx và Engels hầu như là sao chép toàn bộ cuốn sách “Bộ luật xã hội” của Theodor Dezami, mà ý tưởng tác giả vay mượn hoàn toàn từ ý tưởng của Adam Weishaupt trong tôn chỉ của Giáo phái Illuminati.

Lê-nin cũng là thành viên của Hội Illuminati. Tổ chức của ông ta thông qua một điệp viên gốc Do-thái là Alexander Parvus, đã nhận ít nhất 30 triệu đồng mác cho cách mạng ở nước Nga. Tiến sỹ Elisabeth Heresch, tác giả cuốn “Đặc vụ bí mật Parvus. Cuộc cách mạng được mua bằng tiền” đã nghiên cứu và đưa ra nhận định rằng lãnh đạo cách mạng Nga đều là thành viên của Hội kín ở Bavaria, Munich.

Hội kín bắt buộc các thành viên cấp cao thực hành ma thuật và thờ lạy satan. Họ theo trường phái Ma thuật Memphis-Michraim có tư tưởng luôn hướng đến sự thay đổi không ngừng, luôn luôn làm cách mạng. Do đó Hội kín đều tham gia trực tiếp vào những cuộc cách mạng trên thế giới trong vòng 2 thế kỷ gần đây. Đó là lý do tại sao ngôi sao 5 cánh – là biểu tượng của tôn giáo và ma thuật Ai-cập từ 2000 năm trước Công nguyên, cũng là biểu tượng của Mason, trở thành biểu tượng của những nhà nước mà được hình thành nhờ cách mạng: Mỹ, Liên-xô, Trung quốc, Việt nam,…

Trong thực tế khi Lenin, được tài trợ bởi Ngân hàng Quốc tế, lật đổ chính phủ Sa-hoàng Nga và thành lập chế độ độc tài toàn trị đầu tiên vào năm 1917, lá cờ màu đỏ với một cái búa và liềm là một phiên bản của ngôi sao ma thuật Ai-cập.  Trật tự cũ ở Trung Quốc cũng bị đập vỡ nhờ công Mao Trạch Đông được Moscow giáo dục.

Hiện nay Tiểu ban quan hệ quốc tế Mỹ kiểm soát hoạt động của FED, các sàn chứng khoán thế giới và các phương tiện truyền thông đại chúng. Câu lạc bộ Bilderberg bao gồm các nhà chính trị và tài phiệt thế giới. Câu lạc bộ thành Roma sở hữu Cục tình báo cùng hợp tác với CIA, Interpol, … Đây là những cơ quan hàng tháng quyết định ai sẽ là tổng thống của các quốc gia, có bao nhiêu phần trăm thất nghiệp, quốc gia nào sẽ bị lật đổ, có bao nhiêu bộ trưởng sẽ bị mua chuộc,…

Hiện tại, tất cả các kế hoạch chuẩn bị cho sự ra đời một Liên hợp quốc thống nhất, một chính phủ, một nền kinh tế, một tôn giáo thờ satan. Ngày của Khải huyền đang đến gần.

Đó là bức tranh của lịch sử thế giới. Lịch sử thế giới này nằm dưới quyền của sa-tan. Kinh thánh nói ma quỷ là chúa của đời này, nên nó xoay chuyển lịch sử thế giới theo kế hoạch của nó.

Tuy nhiên, có một Tin mừng cho chúng ta là Đức Chúa Trời là Đấng tể trị. Khi Ngài huỷ phá Vương quốc Ba-by-lon của Nim-rốt, thì Ngài đã có kế hoạch xây dựng Vương quốc của Ngài để thay thế. Ngài đã kêu gọi Abraham, ban cho ông lời hứa trở thành thần dân trong Vương quốc Đức Chúa Trời, nếu ông ta tin Ngài.

Như vậy chúng ta nhìn thấy 2 bánh xe lịch sử thế giới đang xoay. Một bánh xe dẫn đến kế hoạch của sa-tan, và dẫn xuống hoả ngục. Còn bánh xe lịch sử của Đức Chúa Trời thì cứu rỗi nhân loại bởi ân điển của đức tin.

Be the first to comment

Leave a Reply