ĐỨC TIN CUỐI ĐỜI CỦA ABRAHAM (Sáng thế ký 23-25)

Câu khóa 24:3-4 “và ta sẽ biểu ngươi chỉ Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của trời và đất, mà thề rằng: ngươi không cưới một cô nào trong bọn con gái của dân Ca-na-an, tức giữa dân ấy ta trú ngụ, làm vợ cho con trai ta. 4Nhưng hãy đi về quê hương ta, trong vòng bà con ta, cưới một người vợ cho Y-sác, con trai ta.

Trong phân đoạn Kinh thánh hôm nay chúng ta thấy Lời hứa được thực hiện đối với Abraham và bây giờ được chuyển giao cho Isaac. Nội dung của Lời hứa gồm có 3 phần: 1. đất đai, 2. dòng dõi, 3. chủ quyền. Cuối đời Abraham làm 2 việc bởi đức tin vào Lời hứa: mua cánh đồng Mặc-bê-la (đất đai) và cưới vợ cho Isaac (dòng dõi). Cuối cùng cuộc đời của Abraham thật viên mãn, ông thỏa lòng về đời này, và được Đức Chúa Trời tiếp vào Vương quốc đời đời của Ngài. Chúng ta cầu nguyện để chúng ta cũng dám dấn thân đi theo Lời hứa Chúa, và sẽ kinh nghiệm được dư dật sự ban phước và bảo hộ của Đức Chúa Trời, và cuối cùng được cứu lên Thiên đàng. Amen.

  1. Abraham mua Mặc-be-la (chương 23)

Khi Sa-ra được 127 tuổi thì bà qua đời. Lúc đó Isaac đã 37 tuổi. Sa-ra là một người phụ nữ của đức tin. Bà đã cùng chồng đi theo sự kêu gọi của Chúa, tin vào Lời hứa Chúa. Mặc dù Kinh thánh nói không nhiều về bà, bởi vì bà đóng một vai trò rất thầm lặng trong lịch sử của Đức Chúa Trời, giống như Anna mẹ của Samuen, họ chỉ cầu nguyện bởi đức tin. Nhưng rõ ràng nếu không có sự nâng đỡ và chia sẻ của bà thì Abraham không thể giữ được đức tin cho đến cuối cùng. Cầu xin Đức Chúa Trời dấy lên những người nữ của đức tin thầm lặng cầu nguyện như vậy. Amen.

Mãi lúc này Abraham mới công khai mua 1 mảnh đất ở Canaan, đó là cánh đồng Mặc-bê-la. Đây là 1 hành động của đức tin. Trong chương 15 Đức Chúa Trời báo trước là dòng dõi của Abraham sẽ bị nô lệ trong xứ khác và sau 400 năm quay trở lại miền đất hứa. Việc mua cánh đồng này của ông đã đặt nền cho hậu thế trong tương lai đến 400 năm sau. Đức tin của Abraham lúc này đã vượt qua thời gian và đi trước lịch sử, vì ông tin vào Đức Chúa Trời là Đấng hằng hữu, và vương quốc và sự tể trị của Ngài là đời đời.

Sau này Isaac, Gia-cốp, Giô-sép giữ đức tin và trước khi chết trăn trối cho con cháu phải chôn mình ở Mặc-bê-la. Năm 70 sau Công nguyên dân Do-thái bị mất nước, và mãi đến 19 thế kỷ sau, năm 1948 họ mới được hồi hương. Đất Israel lúc đó đã có dân Palestin ở. Nền tảng lịch sử của việc này chính là việc Abraham đã mua cánh đồng Mặc-bê-la. Hành động của Abraham đã đi trước lịch sử 4000 năm.

  1. Abraham cưới vợ cho Isaac (chương 24)

Chúng ta xem câu 2-4 “2Áp-ra-ham nói cùng người đầy tớ ở lâu hơn hết trong nhà mình, có quyền quản trị các gia tài, mà rằng: Xin hãy đặt tay lên đùi ta, 3và ta sẽ biểu ngươi chỉ Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của trời và đất, mà thề rằng: ngươi không cưới một cô nào trong bọn con gái của dân Ca-na-an, tức giữa dân ấy ta trú ngụ, làm vợ cho con trai ta. 4Nhưng hãy đi về quê hương ta, trong vòng bà con ta, cưới một người vợ cho Y-sác, con trai ta.”

Nếu chỉ cần để cho con trai cưới vợ thì Abraham rất có thể cưới cho Isaac một cô gái giỏi giang xinh đẹp trong vòng những dân Canaan, bởi vì như chúng ta thấy Đức Chúa Trời ban ơn cho ông và Abraham có uy tín rất cao ở vùng đất nơi ông kiều ngụ. Tại sao Abraham lại không muốn cho Isaac cưới một cô nào trong bọn con gái của dân Ca-na-an làm vợ? Bởi vì điều này liên quan mật thiết đến Lời hứa. Abraham biết chắc là các dân tộc Canaan sẽ bị Đức Chúa Trời trừng phạt và tiêu diệt, cho nên ông không muốn cho dòng dõi của ông là những kẻ kế tự Lời hứa lại thông đồng với những dân tộc đó. Làm thế nào mà người có đức tin lại có thể đi chung 1 con đường với người đi xuống hỏa ngục? Vả lại ông tin rằng Đức Chúa Trời là Giê-hô-va Di-rê sẽ sắm sẵn cho Isaac người vợ đẹp lòng Ngài. Abraham chính mình đã kinh nghiệm được sự thành tín của Chúa, nên ông rất tin tưởng vào sự thành tín của Ngài trong đời sống của Isaac, cũng như trong việc xây dựng hôn nhân cho Isaac. Chúng ta xem câu 6-7 “6Áp-ra-ham nói rằng: Hãy cẩn thận, đừng dẫn con ta về xứ đó! 7Giê-hô-va là Đức Chúa Trời trên trời, là Đấng đã đem ta ra khỏi nhà cha ta và xứ sở ta, có phán và thề rằng: Ta sẽ cho dòng dõi ngươi xứ nầy! Chính Ngài sẽ sai thiên sứ đi trước ngươi, và nơi đó ngươi hãy cưới một vợ cho con trai ta.

Ở đây chúng ta học đức tin của Abraham về hôn nhân. Hôn nhân theo ý Chúa là giữa 2 người có chung đức tin vào Lời hứa. Nền tảng của hôn nhân phải là những giá trị thuộc linh: cùng đức tin, cùng mục đích sống, cùng hệ thống giá trị theo Kinh thánh. 2 Cô-rin-tô 6:14-16 “14Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin. Bởi vì công bình với gian ác có hội hiệp nhau được chăng? Sự sáng với sự tối có thông đồng nhau được chăng? 15Đấng Christ và Bê-li-an nào có hòa hiệp chi, hay là kẻ tin có phần gì với kẻ chẳng tin? 16Có thể nào hiệp đền thờ Đức Chúa Trời lại với hình tượng tà thần?” Nền tảng của hôn nhân trong đức tin – không phải là cảm xúc, hợp nhau, thích nhau, tính toán vật chất…

Con người thứ ba để chúng ta học được – đó là người đầy tớ già của Abraham. Ông tiếp nhận một công việc được giao phó, có thể nói rất khó khăn. Đường đi rất xa, tuổi đã già, rất mệt nhọc, nhưng khi đi đến nơi ông không nghĩ đến việc nghỉ ngơi. Ông cũng không dựa theo sự khôn ngoan là tìm những người bản địa để dò hỏi, mà cầu nguyện. “12Người nói rằng: Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của chủ Áp-ra-ham tôi ơi! Xin ngày nay cho tôi gặp điều mà tôi tìm kiếm, và hãy làm ơn cho chủ Áp-ra-ham tôi!13Nầy, tôi đứng gần bên giếng nầy, các con gái của dân trong thành sẽ ra đi xách nước,14xin cho người gái trẻ nào mà tôi nói như vầy: “Xin nàng hãy nghiêng bình, cho tôi uống nhờ hớp nước,” mà nàng trả lời rằng: “Hãy uống đi, rồi tôi sẽ cho các lạc đà ngươi uống nữa,” là chính người mà Chúa đã định cho Y-sác.” Đi theo Abraham nhiều năm, ông cũng học được đức tin vào sự thành tín của Đức Chúa Trời.

Ở đây chúng ta cũng học được ở ông sự khôn ngoan khi chọn vợ cho Isaac. Trong tiêu chuẩn của ông thì sắc đẹp hình thức bên ngoài không quan trọng, mà là những phẩm chất cần phải có ở người vợ như sự nhân hậu, khiêm tốn, niềm nở và tính hy sinh. Chúng ta cầu nguyện để các chị em có được những phẩm chất đáng quý này.

Chúng ta cũng học ở người đầy tớ tinh thần trách nhiệm với nhiệm vụ được giao. Khi đến nhà Rebeca, người đầy tớ bèn vào nhà; La-ban cổi yên cho lạc đà, đem cỏ cùng rơm cho các thú đó; rồi lấy nước đặng rửa chân cho người đầy tớ và mấy kẻ đi theo. 33Đoạn, người nhà bày bữa và mời ăn; nhưng người đầy tớ nói: Không, tôi không ăn đâu, nếu chưa nói được những điều tôi cần phải nói. Mãi sau khi nhận được kết quả thì ông mới ăn uống. Chúng ta xem câu 54 “Đoạn người đầy tớ cùng các người đi theo ngồi ăn uống; rồi ngủ tại đó. Qua ngày sau, khi họ đã thức dậy, người đầy tớ nói rằng: Xin hãy cho tôi trở về chủ.” Ông không nghĩ đến việc đi tham quan mua sắm, xả stress, mà chỉ nghĩ làm thế nào hoàn thành được công việc được giao phó.

Người đầy tớ già này dạy cho chúng ta thái độ cần có của một người hầu việc Chúa. Đó là đức tin cầu nguyện trông cậy hoàn toàn vào sự dẫn dắt của Chúa, cũng như tinh thần trách nhiệm và tận tụy với công việc được giao.

Chúng ta học tấm gương đức tin qua người thứ tư – đó là Rebeca. Khi cô nghe lời chứng của người đầy tớ già thì cô có đức tin rằng đây là hôn nhân đến từ Chúa và cô quyết định đi cùng. Mặc dù cô chưa bao giờ nhìn thấy và gặp gỡ trò chuyện với Isaac, và cô có thể có nghi ngờ: tại sao Isaac lại không tự đi tìm vợ, mà lại phải sai đầy tớ già? Có phải anh ta có vấn đề về tâm lý? Hoặc chân què? Có thể có nhiều nghi vấn và sợ hãi… Tuy nhiên Rebeca không trao phó tương lai và cuộc đời mình vào tay của 1 người đàn ông, nhưng vào tay Chúa, là Đức Chúa Trời toàn năng và nhân từ, thành tín. Chỉ khi có đức tin như vậy, thì chúng ta sẽ không có chờ đợi ở người phối ngẫu những kỳ vọng gì cả. Và do đó, nếu có khó khăn xảy ra, chúng ta sẽ chờ đợi và tin vào Chúa, chứ không đòi hỏi ở người phối ngẫu, và sẽ không xảy ra thất vọng vì người phối ngẫu. Sau này họ phải chờ đợi tới tận 20 năm mới có con, nhưng vì có đức tin nên cả Rebeca và Isaac kiên trì cầu nguyện, không thất vọng và cũng không đổ tội cho nhau.

Con người đức tin thứ năm ở đây cần nói đến đó là Isaac. Mặc dù cũng đã lớn tuổi, chúng ta cũng không biết tại sao Isaac vẫn chưa lấy vợ. Có thể do anh nhút nhát, hay xấu hổ. Nhưng Isaac có đức tin trông cậy Đức Chúa Trời rằng Ngài sẽ an bài cuộc đời của anh. Anh trao trách nhiệm này cho cha anh và trong lúc người đầy tớ đi tìm vợ, thì anh cũng không ngồi không, mà cầu nguyện nhiều với Đức Chúa Trời. Chúng ta xem câu 63 “lối chiều, người đi ra ngoài đồng đặng suy ngẫm; nhướng mắt lên, kìa ngó thấy lạc đà đâu đi đến.” Sau một ngày làm việc nặng nhọc, Isaac đi ra ngoài đồng và suy gẫm cầu nguyện với Đức Chúa Trời. Khi nhìn thấy người đầy tớ và Re-be-ca, thì anh biết rằng Đức Chúa Trời đã trả lời cho sự cầu nguyện của mình, và anh tiếp nhận Rebeca như người vợ đến từ Chúa.

III. Những năm cuối đời của Abraham:

Khi đi theo sự kêu gọi của Đức Chúa Trời, lúc đầu Abraham phải chịu nhiều sự thiệt thòi, gian nan thử thách. Ông từ bỏ những tham vọng và mục đích trần tục, để sống theo Lời Chúa. Nhưng cuối đời, Đức Chúa Trời ban cho Abraham đầy đủ mọi thứ: ông được nổi danh và tôn trọng giữa vòng các dân, ông cũng được chu cấp đầy đủ mọi nhu cầu, và điều quan trọng hơn hết ông được Đức Chúa Trời tiếp nhận vào Vương quốc đời đời của Ngài.

Sáng 24:1 “Vả, Áp-ra-ham đã già, tuổi đã cao; trong mọi việc Đức Giê-hô-va đã ban phước cho người.” Sáng 25:7-8 “ 7Áp-ra-ham hưởng thọ được một trăm bảy mươi lăm tuổi; 8người tuổi cao tác lớn và đã thỏa về đời mình, tắt hơi, được qui về nơi tổ tông.

Để kết luận, chúng ta cầu nguyện để chúng ta chọn cách sống bởi đức tin vào Lời hứa Chúa, mặc dù khó khăn thiệt thòi tạm thời, nhưng cuối cùng chúng ta cũng sẽ có cuộc sống đầy trái quả và thỏa lòng giống Abraham. Amen.

Be the first to comment

Leave a Reply