CA-IN VÀ A-BÊN (Sáng-thế Ký 4)

  1. Tại sao loài người lại bắt đầu dâng của lễ cho Đức Chúa Trời?

Chúng ta xem câu 1-4 “A-đam ăn ở với Ê-va, là vợ mình; người thọ thai sanh Ca-in và nói rằng: Nhờ Ðức Giê-hô-va giúp đỡ, tôi mới sanh được một người. 2. Ê-va lại sanh em Ca-in, là A-bên; A-bên làm nghề chăn chiên, còn Ca-in thì nghề làm ruộng. 3. Vả, cách ít lâu, Ca-in dùng thổ sản làm của lễ dâng cho Ðức Giê-hô-va. 4. A-bên cũng dâng chiên đầu lòng trong bầy mình cùng mỡ nó…” Sau khi phạm tội, loài người bị đuổi khỏi vườn Ê-đen. Mối liên hệ với Đức Chúa Trời bị gãy đổ. Nhưng vì cớ sự thương xót, Đức Chúa Trời ban cho con người phương cách đến với Ngài qua sự dâng của lễ. Con chiên sinh tế mà A-ben dâng cho Đức Chúa Trời tượng trưng cho Chúa Jesus Christ. Sau này chúng ta đọc trong sách Giăng 1:29  “Qua ngày sau, Giăng thấy Ðức Chúa Jêsus đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Ðức Chúa Trời, là Ðấng cất tội lỗi thế gian đi”. Phải đổ huyết thì tội lỗi mới có thể được tha thứ.

  1. Có sự khác nhau gì giữa của lễ dâng của Ca-in và A-bên?

Chúng ta xem “4b…Ðức Giê-hô-va đoái xem A-bên và nhận lễ vật của người; 5. nhưng chẳng đoái đến Ca-in và cũng chẳng nhận lễ vật của người;..” Có điều gì đó không đúng trong Cain, do đó Đức Chúa Trời đã nhìn thấy điều ẩn giấu trong lòng.

1 Sa-mu-ên 16: 7. Nhưng Ðức Giê-hô-va phán cùng Sa-mu-ên rằng; Chớ xem bộ dạng và hình vóc cao lớn của nó, vì ta đã bỏ nó. Ðức Giê-hô-va chẳng xem điều gì loài người xem; loài người xem bề ngoài, nhưng Ðức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng.

Cái gì là điều khác biệt giữa Cain và Aben?

Hê-bơ-rơ 11:4  Bởi đức tin, A-bên đã dâng cho Ðức Chúa Trời một tế lễ tốt hơn của Ca-in, và được xưng công bình, vì Ðức Chúa Trời làm chứng về người rằng Ngài nhậm lễ vật ấy; lại cũng nhờ đó dầu người chết rồi, hãy còn nói.

Như vậy Kinh thánh cho chúng ta biết điều khác biệt là A-bên đến với Đức Chúa Trời bằng đức tin, còn Cain thì không có đức tin. Như vậy đức tin là gì?

Ca-in có tin vào sự tồn tại của Đức Chúa Trời không? Có. Anh ta có biết Đức Chúa Trời không? Có. Ca-in vẫn tham gia lễ thờ phượng Đức Chúa Trời. Anh ta vẫn dâng hiến. Vẫn nghe thấy tiếng phán của Chúa. Vẫn cầu nguyện với Chúa. Nhưng Kinh thánh nói rằng anh ta không có đức tin. Vậy đức tin thật – đó là tình trạng của tấm lòng. Thế thì tấm lòng như thế nào mới là đẹp lòng Chúa?

Thi-thiên 51: 17. Của lễ đẹp lòng Ðức Chúa Trời, ấy là tâm thần đau thương: Ðức Chúa Trời ôi! lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dẻ đâu.

Đây là tấm lòng ăn năn. Sự thờ phượng thật làm đẹp lòng Chúa – là sự ăn năn. Chỉ khi một người biết nhận ra tội lỗi của mình, khiêm nhường đến trước Chúa ăn năn thống hối về tội lỗi để nhận sự tha tội, thì đó là đức tin thật. Chúng ta thường đi dự lễ thờ phượng với tấm lòng và động cơ sai trật: chúng ta chờ đợi nhận được sự hưng phấn qua âm nhạc sôi động, chúng ta muốn người khác để ý quan tâm chúng ta, chúng ta muốn một bài giảng nổ như sấm, … Những điều này không có gì sai, nhưng vấn đề là khi chúng ta không nhận được điều mong muốn thì chúng ta phán xét hội thánh, rồi bỏ đi tìm một hội thánh khác thích hợp hơn. Thay vì tích cực tham gia làm một cái gì đó, chúng ta chỉ ngồi xem hưởng thụ với thái độ của những người tiêu dùng.

  1. Tại sao Ca-in lại giận? Nan đề của anh ta là gì?

Chúng ta xem câu 6. “Ðức Giê-hô-va phán hỏi Ca-in rằng: Cớ sao ngươi giận, và cớ sao nét mặt ngươi gằm xuống?” Phản ứng tiêu cực này của Ca-in bày tỏ thái độ bên trong của anh ta.

Ca-in khinh lờn Chúa, anh ta nghĩ rằng Chúa mù, không nhìn thấy tấm lòng của anh ta.

Ca-in kiêu ngạo. Anh ta nghĩ rằng mùa màng hoa lợi là công sức của anh ta, mà quên đi rằng mùa màng đều phụ thuộc vào Đức Chúa Trời. Anh ta là người làm ruộng, mưa thuận gió hoà là nhờ trời ban. Khi chúng ta dâng hiến, đều phải nhớ rằng mọi thứ là do Đức Chúa Trời ban cho: sức khoẻ, trí thông minh, việc làm, cơ hội, khách hàng… và cần phải dâng hiến với lòng tạ ơn. Còn Ca-in dâng hiến như thể anh ta đang bố thí cho Đức Chúa Trời.

Ca-in phủ nhận quyền tối cao của Đức Chúa Trời. Ngài có quyền nhận hay không nhận của lễ dâng. Ca-in hành động như thể Đức Chúa Trời bắt buộc phải nhận ơn huệ của anh ta.

Khi Đức Chúa Trời không nhận, thì Ca-in cần phải nhìn nhận suy xét lại bản thân có làm điều gì sai trước Chúa để ăn năn. Nhưng anh ta lại tức giận và đố kỵ với anh em của mình.

  1. Đức Chúa Trời khuyên Ca-in làm gì? Làm thế nào Ca-in có thể quản trị được tội lỗi?

Chúng ta xem câu 7. “Nếu ngươi làm lành, há chẳng ngước mặt lên sao? Còn như chẳng làm lành, thì tội lỗi rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm; nhưng ngươi phải quản trị nó.” Đức Chúa Trời tế nhị nhắc khéo Ca-in rằng anh ta đang không làm điều lành, anh ta đang tự bị tự ái tổn thương bởi chính sự kiêu ngạo của mình. Anh ta tự ái với Đức Chúa Trời, anh ta tự ái với anh em của mình. Sự kiêu ngạo tự ái đang sẵn sàng mở cánh cửa cho sa-tan bước vào đời sống của Ca-in.

  1. Tại sao Ca-in lại giết em mình?

Chúng ta xem câu 8. “Ca-in thuật lại cùng A-bên là em mình. Vả, khi hai người đương ở ngoài đồng, thì Ca-in xông đến A-bên là em mình, và giết đi.” Trong nguyên tác động từ “thuật lại” có hàm ý “mỉa mai, cười nhạo, khinh thường”. Ca-in thay vì ăn năn, thì lại ghanh tức đố kỵ, rồi dùng lời lẽ mỉa mai em mình. Từ tình trạng tấm lòng không đúng trước Đức Chúa Trời, anh ta đã chuyển đến sự ghanh tỵ, rồi dẫn đến hành động giết người. Đây là tên sát nhân đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Tội lỗi bắt đàu từ tư tưởng, rồi từ 1 ý nghĩ sinh ra nhiều ý nghĩ tội lỗi, rồi tội lỗi nung nấu trong ý nghĩ sẽ biến thành hành động.

Chúng ta xem câu 9. “Ðức Giê-hô-va hỏi Ca-in rằng: A-bên, em ngươi, ở đâu?” Câu hỏi này là để Ca-in nhận ra tội lỗi và ăn năn. Nhưng Ca-in đã rất xấc xược trả lời: “Tôi không biết; tôi là người giữ em tôi sao?”  Câu trả lời của Ca-in nêu ra 2 vấn đề: 1/ Đây là bản chất lưu manh xấc xược của tội nhân, anh ta cứ tưởng rằng mình làm gì không ai thấy, không ai biết. 2/ Đây là sự vô trách nhiệm đối với anh em mình. Đáng ra Ca-in chính là người phải giữ em mình, quan tâm săn sóc.

Chúng ta xem câu 10. “Ðức Giê-hô-va hỏi: Ngươi đã làm điều chi vậy? Tiếng của máu em ngươi từ dưới đất kêu thấu đến ta.” Huyết của người công bình đổ xuống sẽ kêu thấu đến Đức Chúa Trời đòi hỏi sự trừng phạt. Chúng ta cũng thấy điều này được nhắc đến trong Khải 6:9-10 “9Khi Chiên Con mở ấn thứ năm, tôi thấy dưới bàn thờ có những linh hồn của kẻ đã chịu giết vì đạo Đức Chúa Trời và vì lời chứng họ đã làm. 10Chúng đều kêu lên lớn tiếng rằng: Lạy Chúa là Đấng thánh và chân thật, Chúa trì hưỡn xét đoán và chẳng vì huyết chúng tôi báo thù những kẻ ở trên đất cho đến chừng nào?

  1. Hậu quả của tội lỗi. Cuộc sống của Ca-in sau khi phạm tội lỗi.

Chúng ta xem câu 11-12 “11. Bây giờ, ngươi sẽ bị đất rủa sả, là đất đã hả miệng chịu hút máu của em ngươi bởi chính tay ngươi làm đổ ra. 12. Khi ngươi trồng tỉa, đất chẳng sanh hoa lợi cho ngươi nữa; ngươi sẽ lưu lạc và trốn tránh, trên mặt đất.” Ở đây chúng ta biết rằng trái quả hoa lợi không phụ thuộc vào sức lao động, mà phụ thuộc vào sự ban phước của Chúa.

Chúng ta xem câu 13-15 “13. Ca-in thưa cùng Ðức Giê-hô-va rằng: Sự hình phạt tôi nặng quá mang không nổi. 14. Nầy, ngày nay, Chúa đã đuổi tôi ra khỏi đất nầy, tôi sẽ lánh mặt Chúa, sẽ đi lưu lạc trốn tránh trên đất; rồi, xảy có ai gặp tôi, họ sẽ giết đi.15. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Bởi cớ ấy, nếu ai giết Ca-in, thì sẽ bị báo thù bảy lần. Ðức Giê-hô-va bèn đánh dấu trên mình Ca-in, hầu cho ai gặp Ca-in thì chẳng giết.” Dấu hiệu đánh dấu trên mình Ca-in không phải là dấu hiệu của tội nhân, mà đó là dấu của sự nhân từ của Chúa đối với tội nhân. Mặc dù Ca-in là 1 kẻ sát nhân ghê tởm, nhưng Đức Chúa Trời vẫn giữ mạng sống cho Ca-in, vì Ngài hy vọng rằng có thể một lúc nào đó, thậm chí lúc sắp chết, Ca-in sẽ hối hận ăn năn để Ngài tha tội cho và ban sự cứu rỗi.

7.Nền văn hóa vô thần của hậu duệ Ca-in

Chúng ta xem câu 16-17 “16. Ca-in bèn lui ra khỏi mặt Ðức Giê-hô-va, và ở tại xứ Nốt, về phía đông của Ê-đen. 17. Ðoạn, Ca-in ăn ở cùng vợ mình, nàng thọ thai và sanh được Hê-nóc; Ca-in xây một cái thành đặt tên là Hê-nóc, tùy theo tên con trai mình.” Mặc dù đã được Đức Chúa Trời hứa bảo vệ, nhưng Ca-in không tin cậy vào lời hứa của Chúa, nên ông ta xây thành để tự bảo vệ. Văn hoá thành thị bắt đầu từ đây. Và điều cần nói là văn hoá thành thị chống nghịch lại mạng lệnh của Chúa. Chúa phán loài người cần phải làm đầy dẫy đất, nhưng thành phố thì lại cứ co cụm lại và tập trung dân cư vào đó.

Chúng ta xem câu 18-24 “18. Rồi, Hê-nóc sanh Y-rát; Y-rát sanh Mê-hu-da-ên; Mê-hu-da-ên sanh Mê-tu-sa-ên; Mê-tu-sa-ên sanh Lê-méc. 19. Lê-méc cưới hai vợ; một người tên là A-đa, một người tên là Si-la.20. A-đa sanh Gia-banh; Gia-banh là tổ phụ của các dân ở trại và nuôi bầy súc vật.21. Em người là Giu-banh, tổ phụ của những kẻ đánh đờn và thổi sáo.22. Còn Si-la cũng sanh Tu-banh-Ca-in là người rèn đủ thứ khí giới bén bằng đồng và bằng sắt. Em gái của Tu-banh-Ca-in là Na-a-ma.23. Lê-méc bèn nói với hai vợ mình rằng: Hỡi A-đa và Si-la! hãy nghe tiếng ta; Nầy, vợ Lê-méc hãy lắng tai nghe lời ta: Ừ! Ta đã giết một người, vì làm thương ta, Và một người trẻ, vì đánh sưng bầm ta.24. Nếu Ca-in được bảy lần báo thù, Lê-méc sẽ được bảy mươi bảy lần báo oán.” Dấu hiệu đặc trưng của hậu duệ của Ca-in là thành công, thành đạt trên con đường danh vọng nghề nghiệp. Tội lỗi đã lan tràn trở thành một trào lưu văn hoá. Nhiều người làm thành phong trào, nhưng đó vẫn là văn hoá tội lỗi.

  1. Hậu duệ của Sết và những người cầu khẩn danh Ðức Giê-hô-va.

Chúng ta xem câu 25-26 “25. A-đam còn ăn ở với vợ mình; người sanh được một con trai đặt tên là Sết; vì vợ rằng: Ðức Chúa Trời đã cho tôi một con trai khác thế cho A-bên mà đã bị Ca-in giết rồi. 26. Sết cũng sanh được một con trai, đặt tên là Ê-nót. Từ đây, người ta bắt đầu cầu khẩn danh Ðức Giê-hô-va”. Dường như cả thế gian và nhân loại chìm vào trong bóng đêm của tội lỗi, không còn ai nhớ đến Đức Chúa Trời nữa, thì Đức Chúa Trời đã dấy lên một người là Sết. Khi sanh Ê-nót, có nghĩa là “kết cục chắc chắn phải đến” – nói về cái chết, thì người ta bắt đầu cầu khẩn danh Chúa. Có lẽ khi đứng trước sự chết, thì con người bắt buộc phải nghĩ về điều gì đang ở thế giới bên kia chờ đợi mình, và lúc đó người ta sẽ nghĩ về sự cứu rỗi đời đời.

Lịch sử của Đức Chúa Trời luôn là số ít, Đức Chúa Trời làm việc qua những con người còn ở lại với Ngài. Đám đông sẽ hò reo phấn khích, nhưng sẽ từ bỏ Đức Chúa Trời. Chỉ những ai trung tín thì ở lại, nhưng con số đó là số ít. Nhưng Đức Chúa Trời sẽ ở cùng họ.

Be the first to comment

Leave a Reply